Follow us on: 
facebook
youtube
flick
 

Bài phát biểu của Điều phối viên Thường trú của LHQ tại Việt Nam, TS. Pratibha Mehta tại diễn đàn Chính sách Phát triển Dân tộc Thiểu số Thường Niên - Mục tiêu Phát triển Dân tộc Thiểu số trong Kế hoạch Phát triển KT-XH giai đoạn 2016 – 2020

In Email

 

Ngày: Ngày 29/1/2015
Sự kiện: Diễn đàn Chính sách Phát triển Dân tộc Thiểu số  Thường Niên - Mục tiêu Phát triển Dân tộc Thiểu số trong Kế hoạch Phát triển KT-XH giai đoạn 2016 – 2020

 

Kính thưa Ông Danh Út, Phó Chủ tịch Hội Đồng Dân Tộc Quốc Hội
Ông Sơn Phước Hoan, Thứ trưởng, Phó Chủ nhiệm Ủy Ban Dân Tộc;
Kính thưa Ngài Damien Cole, Đại Sứ Cộng Hòa Ai Len;
Các đại biểu đến từ các cơ quan Chính phủ, các địa phương và đồng bào DTTS
Đại diện các tổ chức quốc tế và tổ chức phi chính phủ;
Thưa toàn thể quý vị.    

Xin chúc quý vị đại biểu một buổi sáng tốt lành và nhiệt liệt chào mừng quý vị tham dự Diễn dàn Chính sách phát triển Dân tộc thiểu số đầu tiên trong năm 2015. Kể từ Diễn đàn đầu tiên vào năm 2008, do Ủy ban Dân tộc  đồng chủ trì, các diễn đàn thường niên đã trở thành một kênh đối thoại quan trọng, kết nối nhiều bên liên quan, và đã góp phần đẩy mạnh sự phát triển của đồng bào DTTS và các cộng đồng nơi họ sinh sống.  Nhìn lại các diễn đàn trước đây, chúng ta có thể thấy rõ nhiều lựa chọn chính sách theo hướng tích cực đã được đưa ra trên bàn nghị sự, trong đó phải kể đến việc chính phủ duy trì nguồn lực hỗ trợ cho vùng DTTS, việc ghi nhận sự khác biệt và khoảng cách trong phát triển giữa các nhóm dân tộc như một vấn đề cần ưu tiên ở Việt Nam, và việc cần phải áp dụng một cách tiếp cận phù hợp văn hóa hơn trong hoạch định chương trình chính sách.

Diễn đàn ngày hôm nay đưa ra, rất đúng thời điểm, chủ đề thảo luận nhằm đưa các mục tiêu Phát triển Dân tộc Thiểu số vào trong khung chính sách và chiến lược phát triển quốc gia giai đoạn sắp tới. Trên bình diện toàn cầu, năm 2015 hứa hẹn là một năm quan trọng, với ý nghĩa là năm cuối cùng của Chu kỳ thực hiện các Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ và là năm các quốc gia thành viên của LHQ đưa ra Các Mục tiêu phát triển Bền vững sau năm 2015. Tương tự,  ở Việt Nam đây cũng là năm xây dựng Kế hoạch Phát triển Kinh tế Xã hội 2016-2020   trên cơ sở kết quả đánh quá trình phát triển của quốc gia sau 30 năm Đổi mới được thực hiện trong 12 tháng vừa qua. Bên cạnh đó, được Chính phủ giao nhiệm vụ, Ủy Ban Dân tộc cũng hợp tác chặt chẽ với Bộ Kế hoạch và Đầu tư  và nhiều bộ ngành, đang xây dựng Kế hoạch Hành động phát triển DTTS, xác định các ưu tiên phát triển cho các cộng đồng và vùng dân tộc thiểu số theo Phương pháp luận của Khung Thúc đẩy các Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ. Được khởi động từ giữa năm 2014, quá trình xây dựng Kế hoạch Hành động này đã đưa ra các vấn đề ưu tiên và hành động cụ thể  nhằm giải quyết khoảng cách ngày càng lớn giữa nhóm dân tộc thiểu số và mặt bằng chung. Chúng ta sẽ hiểu thêm về công việc quan trọng này trong các phiên làm việc của ngày hôm nay.

Tôi xin được bắt đầu bằng việc nhấn mạnh rằng có một sự tương hỗ giữa hai quá trình đang diễn ra trên bình diện quốc tế và trong nước này, và việc cung cấp thông tin đầu vào cho cả quá trình xây dựng Kế hoạch Phát triến kinh tế xã hội và Kế hoạch Hành động Thúc đẩy các Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ là rất quan trọng. Đảm bảo phát triển bình đằng và tăng trưởng bao trùm đang là một thách thức lớn trong khung chính sách của Việt Nam, và trong khuôn khổ đó thì việc giải quyết các khoảng cách tiếp tục mở rộng của các nhóm DTTS so với mặt bằng chung, có lẽ là ưu tiên cấp thiết nhất.

Thành công mà Việt Nam được quốc tế công nhận – vốn đã giúp chuyển biến cuộc sống của hàng triệu người dân Việt Nam trong vòng 30 năm qua – vẫn chưa vươn tới được mọi người dân. Bất chấp các nỗ lực to lớn và nguồn lực đáng kể được phân bổ thực hiện, thành quả giảm nghèo và khả năng thực hiện các Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ ở các cộng đồng dân tộc thiểu số vẫn còn thua xa thành quả chung của cả nước. Điều này được thể hiện rõ nét nhất ở tỷ lệ nghèo, trong đó dân tộc thiểu số chiếm hơn 50%, đồng thời cũng thể hiện tương quan trong rất nhiều mục tiêu khác, nổi bật là tỷ lệ tử vong mẹ, tỉ lệ tử vong sau sinh và các mục tiêu về giáo dục.

Việc tiếp tục thực hiện hành trình còn dang dở này, và đạt được các cam kết trong Mục tiêu phát triển bền vững sau 2015, cũng cần được coi là một ưu tiên của quốc gia. Kế hoạch Hành động DTTS, cũng như các chính sách dân tộc khác, cần có chiến lược để đẩy nhanh tốc độ giảm nghèo và giúp các vùng DTTS chậm phát triển bắt kịp quá trình phát triển một cách bình đẳng. Chiến lược này cần thể hiện có trọng tâm và đủ rõ nét trong kế hoạch PTKTXH 2016-2020, trong các kế hoạch ngành, cũng như trong khung chính sách giảm nghèo sắp tới. Nhiệm vụ này yêu cầu phải cân đối đủ nguồn lực, đưa ra các mục tiêu và chỉ tiêu kế hoạch đủ cụ thể, thiết chế ra các giải pháp có tính sáng tạo và tạo dựng một quy trình hiệu quả hơn trong việc xác định ra các nhu cầu phát triển của đồng bào DTTS, nam giới cũng như nữ giới, và theo dõi đánh giá được quá trình triển khai đạt được mục tiêu chính sách đặt ra.  

Quá trình xác định được các ưu tiên trong phát triển DTTS này cũng là trọng tâm trong sự hợp tác giữa Việt Nam và các tổ chức Liên hợp quốc, các tổ chức tài chính quốc tế và các đối tác phát triển song phương.  

Các hoạt động do các cơ quan chính phủ và các đối tác là thành viên của Nhóm Công tác  về Nghèo Dân tộc thiểu số cùng xây dựng để thực hiện các cam kết đưa ra tại Diễn đàn Đối tác Phát triển Việt Nam năm 2013, và Sáng kiến xây dựng bản Kế hoạch Thúc đẩy thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ  cho vùng DTTS do Ủy Ban Dân tộc và Bộ Kế hoạch Đầu tư thực hiện, đã cung cấp nhiều thông tin đầu vào quan trọng cho Kế hoạch PTKTXH và các chương trình chính sách phát triển. Và việc gắn kết các hành động này vào trong Kế hoạch Phát triển Kinh tế xã hội giai đoạn sắp tới sẽ rất thuận lợi nếu tiếp tục triển khai theo cách tiếp cận này.

Vào thời điểm này, khi chính phủ đang hoàn thành việc soạn thảo bản Kế hoạch phát triển DTTS và xây dựng khung Kế hoạch PTKTXH, tôi xin chia sẻ 3 nhóm khuyến nghị. Tôi cũng xin kêu gọi vai trò tham mưu của UBDT cùng chúng tôi vận động chính sách cho đồng bào DTTS trong mỗi nội dung sau đây.

Nhóm khuyến nghị thứ nhất liên quan đến cách thức Việt Nam cần xử lý các vấn đề và xu hướng bất bình đẳng vốn nảy sinh khi các quốc gia tăng trưởng và phát triển và đặc biệt thường nổi bật ở các nước có thu nhập trung bình (MICs). Trong thực tế, sự tăng trưởng mạnh mẽ mà Việt Nam đạt được nhờ công nghiệp hóa và tạo giá trị gia tăng trong sản xuất nông nghiệp, đồng thời với quá trình tự do hóa thương mại, đã tạo ra nguy cơ loại trừ người nghèo và cận nghèo do các cơ hội mới thường sẽ hướng tới các ngành công nghiệp mới nổi yêu cầu trình độ công nhân kỹ thuật có tay nghề, và thường nằm ở trong và ven các trung tâm đô thị, thành phố lớn. Nếu không có các quyết định chính sách quyết đoán, thì các cơ hội mới và sự phát triển thịnh vượng sẽ không chạm được tới các nhóm dân cư và các vùng ngoại vi ở xa hơn, do đó, khoảng cách giữa người giàu và người nghèo, giữa nhóm thiểu sổ và nhóm đa số có thể sẽ ngày càng rộng hơn.

Xin được làm rõ hơn là kinh nghiệm của các nước có thu nhập trung bình (MIC) và kinh nghiệm của Việt Nam từ giai đoạn đầu của quá trình Đổi mới cho thấy hoàn toàn có thể tránh được một sự đánh đổi giữa phát triên công bằng và hiệu quả kinh tế. Các khoảng cách về phát triển giữa nhóm thiểu số và nhóm đa số  có thể thu hẹp bằng việc tăng cường sự tham gia của nhóm thiểu số trong đời sống chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước.

Các biện pháp phù hợp bao gồm đầu tư vào các ngành nghề có năng suất cao hơn và các hoạt động tạo thu nhập tốt hơn tại các vùng dân tộc thiểu số, kết nối các nhà sản xuất địa phương với thị trường toàn quốc và với các chuỗi giá trị quốc tế. Chìa khóa của thành công là tối đa hóa sử dụng các nguồn nhân lực và tài nguyên tại các vùng này, đồng thời thừa nhận tính  đa dạng như một nguồn vốn xã hội. Nền kinh tế quốc dân có thể lớn mạnh thông qua việc nâng cao năng lực của cộng đồng dân tộc thiểu sổ, giúp họ nắm bắt các cơ hội phát triển mới và phát huy tiềm năng của mình.

Bảo vệ hiệu quả quyền tiếp cận đất và vốn sản xuất của người dân tộc thiểu số nhằm giúp họ tạo kế sinh nhai và trang bị hành trang giúp họ tìm việc làm thông qua đào tạo nghề theo hướng phù hợp với văn hóa, nhu cầu thị trường và mong muốn của người sử dụng lao động là rất quan trọng. Quan trọng không kém là việc đảm bảo tạo cơ hội tiếp cận tốt hơn với các dịch vụ y tế và giáo dục có chất lượng. UBDT có vai trò như một đại diện giúp các cộng đồng cất tiếng nói và đối thoại với các cơ quan cung cấp dịch vụ. Sự đầu tư này sẽ trực tiếp giúp người dân tộc thiếu số có thể tham gia đóng góp và hưởng lợi ích cũng như hòa nhập vào quá trình phát triển.

Cách tiếp cận ‘đôi bên cùng có lợi’ này đã được Chính phủ đưa ra trong định hướng của Nghị quyết 80, trong đó kêu gọi việc lồng ghép các chính sách giảm nghèo vào khung chính sách và kế hoạch của các bộ ngành, trong khi ưu tiên nguồn lực cho các xã đặc biệt khó khăn. Đây là nỗ lực đáng khích lệ trong việc Chính phủ ghi nhận tầm quan trọng của việc thiết kế và triển khai chính sách sao cho mọi người dân và vùng địa lý đều được hưởng chính sách, trong việc Chính phủ cam kết hướng tới xây dựng kế hoạch PTKTXH công bằng và bao trùm và tiếp tục xây dựng khung chương trình chính sách giảm nghèo quốc gia trong giai đoạn tới. Kế hoạch Hành động Phát triển DTTS do UBDT chủ trì, sẽ là cầu nối để đảm bảo các nhu cầu mang tính đặc thù của đồng bào DTTS được đưa vào các công cụ chính sách này. Nhiệm vụ căn bản sẽ phải làm là hệ thống hóa và thể chế hóa các mối liên kết này.

Thứ hai, các cam kết chính trị cần được đi liền với các cơ chế triển khai hiệu quả nếu thực sự muốn tạo ra sự khác biệt và thay đổi thực sự cho đời sống của người dân. Điểm cốt yếu là Kế hoạch PTKTXH và khung chính sách giảm nghèo giai đoạn sau cần đẩy mạnh tư duy cải cách thể chế và tái ưu tiên trong hoạch định chính sách, chứ không chỉ tập trung vào các chức năng cung cấp dịch vụ đơn thuần. Điều này đòi hỏi xác định lại vai trò của các cơ quan trung ương trong việc giám sát, theo dõi và điều tiết chính sách; và vai trò của cấp tỉnh, huyện, xã trong quá trình phân cấp, trao quyền và cung cấp dịch vụ, để đẩy mạnh hơn trách nhiệm giải trình, khả năng phản ứng kịp thời và khả năng thích ứng với nhu cầu và bối cảnh địa phương. Cũng sẽ cần ghi nhận, cả trong quy trình hoạch định chính sách và nâng cao năng lực cán bộ, tầm quan trọng của quá trình quản trị công theo tư duy nhận thức và hiểu biết về văn hóa bản địa. Đặc biệt quan trọng nếu phải cung cấp các dịch vụ công thông qua trao đổi qua ngôn ngữ với đồng bào sở tại và nhận thức được được bối cảnh xã hội đặc thù vùng miền sẽ tạo ra các nhu cầu đặc thù và qua đó chính sách, dịch vụ cũng cần thích ứng như thế nào. Ngoài ra, cũng cần cân nhắc đến việc tăng quyền làm chủ và nguồn lực cho cấp cơ sở, thông qua phương thức hỗ trợ trọn gói cho các cộng đồng DTTS, những người biết rõ nhất mình cần gì và cần làm gì để thực hiện các ưu tiên của cộng đồng, phù hợp với văn hóa và truyền thống của mình.

UBDT phải là cơ quan đi đầu trong việc tiếp tục thúc đẩy tư duy làm chính sách mới, như cơ quan đại diện cho người dân. Ở đây tôi cũng xin nhấn mạnh việc cần tạo tiếng nói cho đồng bào DTTS, đặc biệt là phụ nữ DTTS, trong việc phản hồi chất lượng dịch vụ công của chính phủ và trong quá trình phát triển cộng đồng. Kinh nghiệm quốc tế và ở Việt Nam cho thấy nếu ta có thể tạo cơ hội cho các tổ chức xã hội dân sự tại địa phương được tham gia vào các chương trình chính sách của nhà nước, thì họ sẽ trở thành một đối tác tin cậy trong việc cung cấp dịch vụ và đã có nhiều minh chứng về tiềm năng của các tổ chức này tạo ra các đóng góp đáng kể và bền vững cho quá trình phát triển của địa phương.

Thứ ba, tôi nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tạo ra khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu tại các cộng đồng này. Nếu không có khả năng thích ứng này thì các kết quả phát triển không thể được duy trì. Việt Nam đang gặp phải quá nhiều rủi ro, cả từ bối cảnh hòa nhập mạnh vào thương mại toàn cầu và cả áp lực về môi trường do biến đổi khí hậu. Các rủi ro này đặc biệt lớn ở vùng DTTS và cộng đồng DTTS do họ đã sẵn có nhiều yếu tố dễ bị tổn thương. Các mục tiêu chính sách cần bao gồm cả việc tạo ra năng lực tự chủ thông qua xây dựng kỹ năng và tạo giá trị gia tăng, đồng thời thông qua cung cấp dịch vụ công – các công trình cơ sở hạ tầng có thể bảo đảm cho người dân trong những hoàn cảnh rủi ro lớn nhất và thích nghi với biến đổi khí hậu, đồng thời phát triển hệ thống an sinh xã hội hiện đại theo cách tiếp cận vòng đời.

Tôi xin kết thúc bài phát biểu bằng việc khẳng định Việt nam có thể tạo dựng một tương lai tốt đẹp hơn cho mọi người dân trên đất nước này, thông qua việc khám phá tiềm năng nguồn nhân lực dân tộc thiểu số, thông qua việc ghi nhận các giá trị của sự đa dạng văn hóa đã là một yếu tố nền tảng trong lịch sử phát triển của các dân tộc và sẽ tiếp tục đóng vai trò cốt yếu trong quá trình phát triển tương lai của họ. Điều này sẽ cần phải tích hợp và lồng ghép nhiều hơn các chính sách cho DTTS, nhưng cũng đòi hỏi vai trò chủ trì và tham mưu mạnh mẽ hơn của UBDT.

Đối diện với các vấn đề bất bình đẳng và loại trừ xã hội, cùng với biến đổi khí hậu, là các thách thức về chính sách trong thời đại ngày nay. Tôi xin nhắc lại thông điệp đã đưa ra trong diễn đàn Các đối tác Phát triển Việt Nam tháng 12 vừa qua – chúng ta cần nỗ lực tập thể mới có thể giúp không còn ai bị loại trừ và không còn ai bị tụt hậu trong quá trình phát triển. Tôi xin khẳng định cam kết của các cơ quan LHQ ở Việt Nam để có thể hỗ trợ và làm hết sức những gì chúng tôi có thể giúp Việt Nam nhằm đạt được mục tiêu này.

Xin cảm ơn!